Bài dự thi: Cái chữ đã về trên vùng cao biên giới (09/10/2017)


TÁC PHẨM DỰ THI CUỘC THI
“BÁO CHÍ VIẾT VỀ NÔNG THÔN MỚI GẮN VỚI CƠ CẤU LẠI NGÀNH NÔNG NGHIỆP" GIAI ĐOẠN 2017-2020
Tác giả: Ngọc Diễm, Tạp chí Nông thôn Việt 



Đồn Biên phòng Đăk Nhoong cách thành phố Kon Tum gần 150km. Khung cảnh trên đường đi khiến tôi chợt nhớ tới câu thơ trong bài “Tiếng hát đi đày” của nhà thơ Tố Hữu: “Đường lên Đăk Sút, Đăk Pao/Đèo leo ngọn thác, cầu treo mặt ghềnh”. Dân bản ở nơi “đèo heo gió hút” này, kiếm được miếng ăn đã khó, nói gì đến việc học cái chữ…

NGỌC DIỄM_B1_A1.jpg 
Bộ đội Biên phòng Kon Tum dạy xóa mù chữ cho học sinh dân tộc thiểu số​

       Có cái chữ mới không còn nghèo đói

      Trên đỉnh cao Đăk Nhoong thuộc vùng Tây Trường Sơn của huyện biên giới Đăk Glei, có một đồn biên phòng vững chãi trên đỉnh núi - Đồn Biên phòng 669, Bộ đội biên phòng tỉnh Kon Tum. Những người lính mang quân hàm xanh trên núi rừng cao nguyên này không chỉ vững tay súng bảo vệ hơn 30km đường biên giới giáp với nước bạn Lào mà trong suốt những năm qua còn mở trên 50 lớp học xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cho trên 1.000 lượt người dân của xã vùng cao Đăk Nhoong, huyện Đăk Glei.

      Trung tá, nguyên Đồn trưởng, Bí thư Chi bộ đồn 669 Nguyễn Ngọc Lệ cho biết: Đăk Nhoong có hơn 300 hộ, hơn 1.500 khẩu, tất cả là bà con dân tộc Giẻ Triêng sống rải rác ở 7 làng, địa hình chia cắt, đất dốc đồi cao, đời sống của bà con rất khó khăn. Đặc biệt là số người mù chữ chiếm hơn 90% số dân. Trước thực trạng này, với quyết tâm mang ánh sáng văn hóa đến cho người dân, sau nhiều lần bàn bạc với Đảng bộ xã, Chi bộ Đồn Biên phòng 669 đã ra Nghị quyết chuyên đề “Xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cho người dân xã Đăk Nhoong” và coi đây là nhiệm vụ chính trị cấp bách, chiến lược ở nơi “thâm sơn cùng cốc” này.

        Ngày ấy, trung úy - đảng viên trẻ, Bí thư Chi đoàn Trần Quốc Tuấn được Chi bộ giao làm Đội trưởng “Đội vận động quần chúng” gồm 12 đoàn viên và đảng viên trẻ đã tốt nghiệp PTTH và biết tiếng dân tộc Giẻ Triêng, với nhiệm vụ: ban đêm dạy học, ban ngày cùng với bà con tổ chức sản xuất và chăm lo đời sống mọi mặt cho nhân dân ở các bản làng.

       Trần Quốc Tuấn tâm sự với chúng tôi: “Lúc được Chi bộ giao nhiệm vụ dạy học, em lo lắm. Bởi vì bao nhiêu năm trong xã không có người học hết lớp 5, trẻ em học được vài ba tháng là bỏ học đi làm rẫy hết”. Tuấn sống ở nơi biên giới này cũng khá lâu, đã gắn bó với người Giẻ Triêng và thấy thương bà con lắm, thương thật sự, nhất là trẻ em. Với trách nhiệm là đội trưởng, anh cùng các đồng đội Đặng Trung Trực, Nguyễn Văn Long… hằng đêm đến nói chuyện với các già làng và một số người có uy tín để tuyên truyền, vận động bà con đăng ký đi học. Một số thì nghe theo lời của đội trưởng Tuấn, nhưng số người không ủng hộ cũng nhiều.

       Trần Quốc Tuấn nói với bà con rằng: “Có cái chữ thì bà con mới làm cây lúa có nhiều bông, ngô nhiều hạt, mới biết cách đưa điện sáng về làng, làm đường đi khỏi lầy lội; có chữ thì sẽ không nghèo, không còn đói cái bụng nữa...”. Người không ủng hộ thì cho rằng: “Ô, cái cán bộ Tuấn nó chỉ nói hay cái miệng thôi. Làm không có được đâu, học cái chữ khó lắm...”. Vì thế, không chỉ tuyên truyền mà Tuấn và đồng đội mỗi khi có việc phải ra huyện hay về tỉnh đều đưa một số người là già làng và người có uy tín đi theo, dẫn họ đến thăm một số gia đình dân tộc thiểu số khác để bà con thấy chuyện học hành và cuộc sống mới của một số dân tộc khác như Xơ Đăng, Bah Nar trong tỉnh.

       Thế là bà con dần dần nghe ra, cho con em đăng ký đi học. Học viên nhỏ nhất là 7 tuổi, cao tuổi nhất là 38. Trần Quốc Tuấn đề nghị với Chi bộ và lãnh đạo đồn cùng với nhân dân xây dựng 5 phòng học, đóng 5 bảng đen, 100 bộ bàn ghế phục vụ cho việc khai giảng các lớp học đầu tiên. Tuấn nhớ lại mà vẫn như còn xúc động: “Ngày khai giảng lớp học đầu tiên đúng như ngày hội, và còn hơn cả các lễ hội đâm trâu, mừng lúa mới... của làng”. Vì đi học đông như thế là một sự kiện chưa từng có ở vùng biên giới quanh năm mờ sương như Đăk Nhoong này. Đảng viên trẻ Nguyễn Văn Minh được phụ trách ở làng Đăk Nớ Pin là làng xa nhất nhớ lại: “Ngày khai giảng đầu tiên ấy, hầu hết 12 anh em trong đội đã khóc. Khóc vì vui sướng với thành quả của những tháng ngày không quản gian khó. Hầu như gia đình nào cũng phấn khởi đưa con em mình đến các lớp học”.

       Điểm sáng văn hóa vùng biên

       Mở được lớp đã khó, việc duy trì và phát triển số người học lại càng khó gấp bội. Thời kỳ đầu, số người bỏ học quá nhiều. Có những lớp chỉ còn từ 7 - 10 người. Vì thế, những chiến sĩ trong đội dưới sự chỉ huy của Trần Quốc Tuấn phải ngày đêm bám dân, bám lớp, thực sự phải 4 cùng (cùng làm, cùng ăn, cùng ở, cùng học) với bà con ở tất cả các buôn làng. Đội phải xin Chỉ huy đồn chi viện thêm một số đoàn viên và đảng viên trẻ để bổ sung vào đội công tác. Khi lên rẫy, lúc dựng nhà, trồng lúa, trỉa ngô trên nương; khi chung vui bên ché rượu cần, cán bộ, chiến sĩ trong đội đều hướng vào mục tiêu duy trì việc học hành. Từ đó, bà con hiểu được “cái bụng” tốt của người lính nên đã coi anh em như những người con thân yêu nhất. Riêng đội trưởng Trần Quốc Tuấn thì được bà con gọi bằng cái tên yêu quý “Thầy giáo bản làng A Tuấn”.

      Cả xã Đăk Nhoong có 7 làng. Làng xa nhất là Đăk Nớ Pin phải mất một ngày đường đi bộ. Mỗi chiến sĩ - thầy giáo được giao nhiệm vụ làm “chủ nhiệm” lớp của 1 làng. Người vất vả nhất và cũng nhiều kỷ niệm hơn cả là Thiếu úy Đặng Trung Trực, phụ trách làng Roóc Mầm - Roóc Mẹt; Nguyễn Văn Minh phụ trách làng Đăk Nớ Pin... Có nhiều lúc học sinh ốm, các anh phải thay nhau cõng vượt rừng, băng suối về đồn điều trị. Hai chiến sĩ Nguyễn Văn Long và Nguyễn Quốc Tuấn trên đường đến lớp, khi đi qua rẫy nghe tiếng khóc của trẻ con và tiếng rên của phụ nữ, các anh vội tìm đến và thấy người mẹ trẻ vừa đẻ đứa con trai ở ngoài rừng. Người mẹ đã đuối sức. Hai anh em phải cõng hai mẹ con hơn chục km về đồn cứu chữa qua cơn nguy biến. “Thế rồi cũng mẹ tròn còn vuông” - Nguyễn Văn Long cười mà ánh mắt chứa chan niềm tự hào, hạnh phúc.

        Song song với nhiệm vụ dạy chữ, mang ánh sáng văn hóa về xã Đăk Nhoong, những năm qua, Bộ Chỉ huy biên phòng tỉnh Kon Tum còn tổ chức xây dựng Đăk Nhoong thành mô hình “điểm sáng vùng biên” với việc dành trên 3 tỷ đồng giúp xã định canh định cư cho gần 100% số hộ; làm mới 20km đường liên xã, xây dựng 2 trường học kiên cố tại làng Đăk Ung và cụm Roóc Mẹt - Roóc Mầm, xây dựng 3 công trình nước sạch, 2 đập thủy lợi để bà con trồng lúa nước và trồng gần 100ha cây ăn quả các loại mang lại màu xanh tươi trên vùng cao biên giới xa xôi.

       Vùng cao biên giới Đăk Nhoong đang thay da đổi thịt từng ngày, đời sống của người Giẻ Triêng nơi đây đã được cải thiện. Đồng bào các dân tộc thiểu số nơi vùng cao biên giới này đang cùng với bộ đội biên phòng dựng xây, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới thiêng liêng của Tổ quốc. Trở lại Đăk Nhoong hôm nay, giữa đất trời Tây Nguyên nắng và gió, những người lính đồn biên phòng nơi đây vẫn âm thầm thả bước tuần tra, lặng lẽ mang niềm vui, cuộc sống mới đến với buôn làng. Đi dọc đường biên, nghe tiếng hát của những chiến sĩ biên phòng nơi đây bài hát “ Đêm trên Cha Lo” của nhạc sĩ  Phạm Tuyên vọng vào vách núi: “ Biên giới sáng trong niềm vui mới, như rực ánh hồng chân mây. Hỡi gió núi hãy hát cùng ta, nắng quê hương bừng lên, mãi xanh tươi cuộc đời’’… mà thấy tha thiết, thân thương quá giữa đất trời biên giới quê hương.​/.


Danh sách ý kiến
Gửi ý kiến
  • Tiêu đề:
  • Người gửi:
  • Email:
  • Số điện thoại:
  • Mã bảo vệ: Mã xác nhận
  • Nhập mã bảo vệ
  • Nội dung:
Gửi ý kiến